
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội. (Nguồn: CAND.com)
Mùa Thu năm 1945 - khi thời cơ lịch sử gặp bản lĩnh của một Đảng cách mạng
Tháng Tám năm 1945 là một trong những bước ngoặt lớn của lịch sử hiện đại Việt Nam. Chỉ trong thời gian ngắn, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhân dân Việt Nam từ Bắc chí Nam vùng lên giành chính quyền. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám không phải là kết quả ngẫu nhiên. Trước đó là cả một quá trình chuẩn bị lâu dài về đường lối, tổ chức, lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và căn cứ cách mạng. Trong những thời điểm có ý nghĩa quyết định, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện khả năng phân tích tình hình, dự báo thời cơ và đưa ra những quyết sách kịp thời, đúng đắn.
Thời cơ lịch sử là yếu tố khách quan, nhưng nhận ra thời cơ, chuẩn bị lực lượng để đón thời cơ và quyết đoán hành động khi thời cơ xuất hiện lại phụ thuộc vào bản lĩnh, năng lực lãnh đạo. Nếu chậm trễ, thời cơ có thể qua đi; nếu nóng vội khi điều kiện chưa chín muồi, cách mạng có thể phải trả giá. Giá trị nổi bật của Cách mạng Tháng Tám chính là sự kết hợp giữa thời cơ lịch sử với sự chuẩn bị chủ động, lâu dài và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Từ lời tuyên bố độc lập đến hành trình bảo vệ quyền làm chủ vận mệnh
Giành được chính quyền đã khó, giữ vững chính quyền cách mạng trong những ngày đầu của nước Việt Nam mới còn khó khăn hơn. Sau ngày 2/9/1945, đất nước đứng trước nhiều thử thách: nền kinh tế kiệt quệ, hậu quả nạn đói nặng nề, trình độ dân trí thấp, bộ máy nhà nước mới hình thành, trong khi các thế lực bên ngoài và lực lượng chống đối bên trong tạo nên nhiều sức ép đối với chính quyền cách mạng non trẻ.
Trong hoàn cảnh ấy, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng bước giải quyết những nhiệm vụ cấp bách: củng cố chính quyền, chống đói, chống dốt, xây dựng nền tài chính, tổ chức Tổng tuyển cử, xây dựng nền tảng pháp lý của Nhà nước mới; đồng thời thực hiện những sách lược linh hoạt nhằm bảo vệ thành quả cách mạng.
Từ đó, một bài học lớn được hình thành và xuyên suốt lịch sử cách mạng Việt Nam: độc lập không chỉ cần được giành lấy mà còn phải có đủ bản lĩnh, sức mạnh và trí tuệ để bảo vệ.
Trong những thập niên tiếp theo, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam tiếp tục trải qua những cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ, đi tới thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Thực tiễn lịch sử cho thấy, khi mục tiêu độc lập dân tộc gắn với sức mạnh của Nhân dân, khi đường lối phù hợp với thực tiễn và khơi dậy được khát vọng của toàn dân tộc, Việt Nam có thể tạo nên sức mạnh to lớn để vượt qua những thử thách tưởng chừng không thể vượt qua.
Từ giành độc lập đến xây dựng một đất nước phát triển
Nếu nhiệm vụ trung tâm của những thế hệ đi trước là giành và giữ độc lập, thì một trong những yêu cầu lớn của thời đại hôm nay là biến nền độc lập ấy thành nền tảng cho phát triển, thịnh vượng và cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn của Nhân dân.
Sau ngày đất nước thống nhất, Việt Nam tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn về kinh tế, hậu quả chiến tranh và những biến động của môi trường quốc tế. Thực tiễn đặt ra yêu cầu phải đổi mới tư duy phát triển. Đại hội VI của Đảng năm 1986 đã mở ra công cuộc đổi mới, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy và phương thức phát triển đất nước.
Qua bốn thập niên đổi mới, Việt Nam đã có những chuyển biến sâu sắc về kinh tế - xã hội, kết cấu hạ tầng, đời sống Nhân dân, hội nhập quốc tế và vị thế quốc gia. Từ một nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, mở rộng quan hệ đối ngoại, tham gia chủ động hơn vào các cơ chế đa phương và nhiều chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu.
Những thành tựu đạt được đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn đối với chất lượng thể chế, hiệu lực quản trị, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; phát triển nguồn nhân lực, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội. Vai trò lãnh đạo của Đảng vì vậy không chỉ được khẳng định bằng những thành tựu đã đạt được mà còn phải tiếp tục được thể hiện bằng năng lực giải quyết hiệu quả những vấn đề mới mà đất nước và Nhân dân đặt ra.
Vai trò lãnh đạo trong kỷ nguyên phát triển mới phải được thể hiện bằng năng lực kiến tạo tương lai

(Nguồn: CAND.com)
Thế giới mà Việt Nam đang bước vào có nhiều khác biệt so với năm 1945 và cả những thập niên đầu của công cuộc đổi mới. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; khoa học - công nghệ, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội. Những thách thức về biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia và an ninh mạng ngày càng đan xen.
Trong bối cảnh đó, sức mạnh của một quốc gia không chỉ được quyết định bởi diện tích, dân số hay tài nguyên mà ngày càng phụ thuộc vào tri thức, công nghệ, dữ liệu, chất lượng thể chế, nguồn nhân lực, năng lực đổi mới sáng tạo và sức chống chịu của xã hội.
Nếu năm 1945, bản lĩnh lãnh đạo thể hiện ở khả năng nhận diện, nắm bắt thời cơ để giành độc lập thì trong giai đoạn hiện nay, bản lĩnh ấy phải được thể hiện bằng khả năng nhận diện thời cơ phát triển, dự báo đúng những biến động chiến lược và chuẩn bị đầy đủ năng lực quốc gia để không bị bỏ lại phía sau trong những cuộc chuyển đổi mang tính thời đại.
Đổi mới tư duy vì vậy phải đi trước một bước; thể chế phải thực sự trở thành động lực phát triển; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải được phát huy mạnh mẽ; nguồn lực con người phải được đặt ở vị trí trung tâm. Mọi chủ trương phát triển cuối cùng phải được đo bằng hiệu quả thực tế và sự cải thiện đời sống của Nhân dân, bởi sức mạnh lãnh đạo bền vững nhất bắt nguồn từ niềm tin của Nhân dân.
Giữ vững “thế trận lòng dân” - bài học từ năm 1945 chưa bao giờ cũ
Một trong những bài học sâu sắc từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là vai trò của Nhân dân. Không có sự tham gia của đông đảo quần chúng thì không thể có cuộc Tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước. Đường lối đúng chỉ có thể trở thành sức mạnh vật chất khi được Nhân dân đồng tình, hưởng ứng và trực tiếp tham gia.
Bài học ấy vẫn còn nguyên giá trị sau 81 năm. Trong điều kiện hiện nay, “lòng dân” trước hết phải được củng cố bằng hiệu quả quản trị, sự công bằng, kỷ cương, tinh thần phục vụ Nhân dân và khả năng giải quyết những vấn đề thiết thực của đời sống. Mỗi chính sách phù hợp, mỗi thủ tục hành chính được đơn giản hóa, mỗi hành vi nhũng nhiễu được xử lý, mỗi quyền và lợi ích hợp pháp của người dân được bảo vệ đều góp phần củng cố niềm tin.
Ngược lại, những biểu hiện quan liêu, xa dân, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nếu không được ngăn chặn sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Vì vậy, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh không chỉ là yêu cầu nội tại của tổ chức Đảng mà còn trực tiếp liên quan đến sức mạnh và khả năng tự bảo vệ của chế độ.
Bảo vệ thành quả 81 năm - trách nhiệm của lực lượng Công an nhân dân
Có một mối liên hệ lịch sử đặc biệt giữa thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám với sự ra đời và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân. Từ những ngày đầu chính quyền cách mạng được thành lập, các tổ chức tiền thân của Công an nhân dân đã cùng toàn Đảng, toàn dân bảo vệ chính quyền non trẻ, đấu tranh chống các hoạt động phá hoại, góp phần bảo vệ thành quả cách mạng.
Trải qua các thời kỳ, nhiệm vụ ấy không thay đổi về bản chất nhưng ngày càng mở rộng về nội hàm. Bảo vệ an ninh quốc gia hôm nay không chỉ là bảo vệ chủ quyền, an ninh chính trị theo nghĩa truyền thống mà còn bao gồm bảo vệ an ninh kinh tế, an ninh văn hóa - tư tưởng, an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bí mật nhà nước, an ninh xã hội và các lợi ích chiến lược của quốc gia trong bối cảnh các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống ngày càng đan xen.
Không gian mạng đang trở thành một địa bàn đặc biệt quan trọng. Thông tin sai lệch, giả mạo, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng có thể tác động đến nhận thức và niềm tin xã hội nếu không được nhận diện, xử lý phù hợp. Điều đó đòi hỏi lực lượng Công an nhân dân phải tiếp tục nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo; chủ động phát hiện nguy cơ từ sớm, từ xa; làm chủ khoa học, công nghệ; đồng thời dựa chắc vào Nhân dân để xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cũng cần gắn với việc cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, thuyết phục và gần với đời sống; lấy sự thật để bảo vệ sự thật, lấy những thành quả thực tiễn và hiệu quả phục vụ Nhân dân để củng cố niềm tin xã hội.
Từ mùa Thu độc lập đến khát vọng Việt Nam hùng cường
Ngày 2/9/1945, trước hàng chục vạn đồng bào tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố với thế giới về quyền độc lập của dân tộc Việt Nam. 81 năm sau, câu hỏi lịch sử đặt ra đối với thế hệ hôm nay đã có thêm một nội hàm mới: không chỉ làm thế nào để giữ vững độc lập mà còn phải đưa đất nước phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, để Nhân dân có cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn; không chỉ bảo vệ những gì cha ông đã giành được mà còn phải tạo dựng những giá trị mới cho các thế hệ mai sau.
Từ một đất nước phải đấu tranh để giành quyền độc lập đến một Việt Nam chủ động hội nhập và khát vọng vươn lên mạnh mẽ là hành trình được tạo nên bằng trí tuệ, bản lĩnh, sự hy sinh và nỗ lực của nhiều thế hệ.
Nhìn lại 81 năm Quốc khánh vì thế không phải để bằng lòng với quá khứ. Lịch sử chỉ thực sự có ý nghĩa khi những bài học của lịch sử trở thành năng lực hành động cho hiện tại và tương lai. Bài học lớn của mùa Thu năm 1945 chính là khi có đường lối đúng, có lực lượng lãnh đạo đủ bản lĩnh, biết đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết; biết dựa vào Nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và nắm bắt đúng thời cơ, Việt Nam có thể vượt qua những thử thách lớn lao.
Từ mùa Thu độc lập năm 1945 đến kỷ nguyên phát triển mới, lịch sử đã đi qua nhiều chặng đường nhưng vẫn có những giá trị xuyên suốt: độc lập dân tộc phải gắn với hạnh phúc của Nhân dân; sức mạnh quốc gia phải được xây dựng trên nền tảng đại đoàn kết toàn dân tộc; vai trò lãnh đạo của Đảng phải không ngừng được khẳng định bằng bản lĩnh trước thử thách, năng lực đổi mới, khả năng kiến tạo phát triển và những thành quả thực tế vì Nhân dân.
Đó cũng chính là cách thiết thực để thế hệ hôm nay gìn giữ và phát huy thành quả của mùa Thu năm 1945: biến niềm tự hào về quá khứ thành trách nhiệm đối với hiện tại, biến khát vọng độc lập của cha ông thành khát vọng xây dựng một Việt Nam hòa bình, tự chủ, tự cường, phồn vinh, văn minh và hạnh phúc.
Phòng An ninh chính trị nội bộ