Ngày 26/11/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Đây là luật chuyên ngành quy định về nguyên tắc, thẩm quyền, điều kiện, trình tự, thủ tục chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam với nước ngoài và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Việt Nam trong quá trình chuyển giao.
Những nguyên tắc quan trọng của hoạt động chuyển giao
Luật đặt ra các nguyên tắc nhằm bảo đảm việc chuyển giao được thực hiện chặt chẽ, đúng pháp luật. Trong đó, hoạt động chuyển giao phải bảo đảm tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; bình đẳng và các bên cùng có lợi. Đồng thời, việc chuyển giao phải phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù thì việc chuyển giao được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế.
Đặc biệt, Luật đặt ra yêu cầu tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đang chấp hành án phạt tù trong quá trình chuyển giao. Điều này cho thấy công tác chuyển giao phải đồng thời bảo đảm hai yêu cầu: quản lý chặt chẽ, đúng pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án.

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025
Các điều kiện để tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam
Một trong những nội dung đáng chú ý của Luật là quy định cụ thể các điều kiện để người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài có thể được tiếp nhận về Việt Nam. Theo đó, về cơ bản, người được đề nghị tiếp nhận phải đáp ứng các điều kiện: là công dân Việt Nam; hành vi phạm tội mà người đó bị kết án ở nước chuyển giao cũng cấu thành tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam tại thời điểm lập yêu cầu; tại thời điểm nhận được yêu cầu, thời hạn chưa chấp hành án phạt tù còn ít nhất 01 năm, trường hợp đặc biệt có thể ít hơn 01 năm; bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và không còn thủ tục tố tụng nào đang chờ xử lý.
Việc tiếp nhận phải có sự đồng ý của Việt Nam trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao lập yêu cầu chuyển giao hoặc sự đồng ý của nước chuyển giao trong trường hợp Bộ Công an lập yêu cầu chuyển giao; đồng thời, phải có sự đồng ý của người đang chấp hành án phạt tù.
Đối với người đang chấp hành án phạt tù là người chưa thành niên hoặc người không có khả năng bày tỏ sự đồng ý với việc chuyển giao vì lý do tuổi tác, tình trạng sức khỏe và trạng thái tinh thần thì phải có sự đồng ý của người đại diện hợp pháp. Như vậy, việc chuyển giao không được thực hiện một cách tùy tiện mà phải trải qua quá trình xem xét nhiều điều kiện về quốc tịch, hành vi phạm tội, thời gian chấp hành án, hiệu lực bản án và sự đồng ý theo quy định.
Những trường hợp có thể từ chối tiếp nhận hoặc chuyển giao
Bên cạnh việc quy định các điều kiện chuyển giao, Luật cũng đặt ra các căn cứ để từ chối tiếp nhận hoặc từ chối chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
Tòa án nhân dân có thẩm quyền quyết định từ chối tiếp nhận hoặc từ chối chuyển giao trong các trường hợp tương ứng theo quy định của Luật, trong đó có trường hợp không đáp ứng nguyên tắc hoặc điều kiện luật định; việc tiếp nhận hoặc chuyển giao có thể phương hại đến chủ quyền, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng, lợi ích của Nhà nước hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân tại Việt Nam.
Đối với việc tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam, việc tiếp nhận còn có thể bị từ chối nếu vượt quá khả năng đáp ứng những yêu cầu cần thiết để tiếp tục thi hành án tại Việt Nam.
Đây là cơ chế cần thiết nhằm bảo đảm hoạt động chuyển giao phù hợp với lợi ích quốc gia, yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn xã hội và khả năng thực tế của hệ thống thi hành án hình sự.
Trách nhiệm của cơ quan quản lý và cơ sở giam giữ
Luật quy định trách nhiệm của nhiều cơ quan trong quá trình chuyển giao, trong đó Bộ Công an là Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các bộ, ngành có liên quan thực hiện nhiệm vụ theo thẩm quyền.
Đối với cơ sở giam giữ, khi có trường hợp liên quan đến chuyển giao, yêu cầu đặt ra trước hết là quản lý chặt chẽ người chấp hành án; bảo đảm an ninh, an toàn; quản lý đầy đủ hồ sơ; cung cấp thông tin chính xác; thực hiện nghiêm các yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Đồng thời, cơ sở giam giữ phải phối hợp trong việc xác minh nhân thân, tình trạng chấp hành án, sức khỏe và những vấn đề cần thiết khác phục vụ quá trình xem xét, quyết định chuyển giao. Đây là lĩnh vực đòi hỏi sự phối hợp giữa công tác quản lý giam giữ, hồ sơ nghiệp vụ, y tế, pháp chế và các đơn vị chức năng, bảo đảm mỗi thông tin được cung cấp đều chính xác và có căn cứ.
Công tác áp giải, bàn giao phải tuyệt đối chặt chẽ
Sau khi có quyết định và hoàn tất các thủ tục cần thiết, việc áp giải, bàn giao người được chuyển giao phải được tổ chức theo đúng quy định. Đây là khâu có yêu cầu đặc biệt cao về an ninh, an toàn, bảo mật thông tin và phối hợp quốc tế.
Đối với lực lượng thực hiện nhiệm vụ, phải bảo đảm đúng người, đúng hồ sơ, đúng quyết định, đúng thời gian, đúng địa điểm, đúng thẩm quyền; bảo đảm an toàn trong quá trình áp giải, bàn giao. Mọi hoạt động phải được thực hiện theo kế hoạch và quy trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt, không để xảy ra sơ hở, thiếu sót.
Theo Luật, Bộ Công an tổ chức việc bàn giao người được chuyển giao vào thời gian, địa điểm đã được thống nhất bằng văn bản với cơ quan có thẩm quyền của nước nhận.
Những yêu cầu đặt ra đối với công tác quản lý, thi hành án phạt tù
Việc Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 có hiệu lực đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với công tác quản lý, thi hành án phạt tù. Trước hết, cán bộ, chiến sĩ phải nắm chắc các quy định của Luật và văn bản hướng dẫn thi hành, đặc biệt là các quy định liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người chấp hành án và trách nhiệm của cơ quan quản lý.
Tiếp đó, phải nâng cao chất lượng quản lý hồ sơ, quản lý nhân thân, quản lý tình trạng chấp hành án và thông tin sức khỏe, bảo đảm dữ liệu chính xác, thống nhất. Cùng với đó, cần tăng cường công tác nắm tình hình, giáo dục, tuyên truyền pháp luật, giúp người chấp hành án hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và những quy định liên quan đến việc chuyển giao.
Đặc biệt, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phải bảo đảm yêu cầu: “Quản lý chặt chẽ - Đúng pháp luật - Bảo đảm an ninh, an toàn - Tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án”.
Ý nghĩa của Luật trong công tác phòng, chống tội phạm và hợp tác quốc tế
Việc ban hành Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hình sự. Luật tạo cơ sở pháp lý để Việt Nam phối hợp với các quốc gia trong việc giải quyết những trường hợp người Việt Nam đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài có nguyện vọng trở về Việt Nam hoặc người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam có nguyện vọng được chuyển giao cho nước ngoài để tiếp tục chấp hành hình phạt khi đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm; bảo đảm việc thi hành hình phạt được thực hiện nghiêm minh, đúng pháp luật; đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người chấp hành án. Luật cũng góp phần khẳng định tinh thần trách nhiệm của Việt Nam trong hợp tác quốc tế về tư pháp hình sự, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền quốc gia, pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế và các nguyên tắc của pháp luật quốc tế.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 là bước hoàn thiện quan trọng về cơ sở pháp lý cho hoạt động chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam và nước ngoài.
Đối với công tác quản lý, thi hành án phạt tù, Luật đặt ra yêu cầu phải chính xác hơn trong quản lý hồ sơ, chặt chẽ hơn trong quản lý người chấp hành án, chủ động hơn trong phối hợp liên ngành và nghiêm túc hơn trong bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án.
Đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ Trại tạm giam số 3 - Công an tỉnh Lâm Đồng, việc nắm vững và thực hiện đúng các quy định của Luật không chỉ là yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ mà còn là trách nhiệm trong việc xây dựng môi trường quản lý, giáo dục và thi hành án chính quy, kỷ luật, an toàn, nhân văn và đúng pháp luật.
Trại tạm giam số 3