1. Giá trị trường tồn của Chủ nghĩa Mác – Lênin, là sự lựa chọn đúng đắn của nhân loại và của dân tộc Việt Nam

Chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của Cách mạng Việt Nam
Chủ nghĩa Mác – Lê nin là một học thuyết có đầy đủ cơ sở khoa học, lý luận và thực tiễn, giá trị của nó được chứng minh bằng thực tiễn sinh động không chỉ ở Liên Xô mà trên toàn thế giới, không chỉ trong thế kỷ XX mà đã và đang được chứng minh trong thế kỷ XXI. Đó là một chủ nghĩa khoa học, là hệ thống mở cần được bổ sung và phát triển.
Giá trị trường tồn và cốt lõi của chủ nghĩa Mác-Lênin là: chứng minh sự phát triển của xã hội loài người là sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp lên cao và khẳng định đó là một quá trình lịch sử - tự nhiên; lý luận về vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; định nghĩa hoàn chỉnh về phạm trù vật chất và ý thức, giai cấp và đấu tranh giai cấp; làm rõ sự thống nhất giữa phép biện chứng, logic biện chứng và lý luận về nhận thức, về những quy luật, nguyên lý và những cặp phạm trù là thế giới quan duy vật biện chứng, phương pháp biện chứng duy vật, quan điểm duy vật về lịch sử… chủ nghĩa Mác-Lênin được coi như học thuyết Đác - uyn trong lĩnh vực xã hội; là chủ nghĩa khoa học, cách mạng và tiến bộ nhất, xuất phát từ con người và nhằm mục đích giải phóng con người.
Dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, chỉ trong thời gian ngắn, hệ thống các nước XHCN đã ra đời và giải phóng rất nhiều quốc gia, dân tộc, giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột của chế độ phong kiến, thực dân, đế quốc, phát xít, khẳng định giá trị khoa học, cách mạng, thực tiễn không thể phủ nhận của chủ nghĩa Mác - Lê nin trên toàn thế giới, mở ra thời đại mới trong lịch sử nhân loại đó là thời đại XHCN, trong đó Liên Xô đã trở thành cường quốc hàng đầu thế giới, là ngọn hải đăng soi sáng con đường cách mạng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người.
Trong quá trình phát triển theo quy luật đường xoắn ốc, bất kỳ cuộc cách mạng nào cũng có những bước thoái lui tạm thời, cách mạng XHCN cũng vậy, sự sụp đổ mô hình XHCN ở Liên Xô và Đông Âu là một bước lùi tạm thời của CNXH chứ không phải là sự sụp đổ hoàn toàn của CNXH nói chung, nguyên nhân chủ yếu là:
Về khách quan: sự nghiệp xây dựng CNXH là con đường hoàn toàn mới, đầy khó khăn, phức tạp, chưa có tiền lệ trong lịch sử nhân loại; hầu hết các nước trong hệ thống XHCN có điểm xuất phát thấp, cơ sở vật chất, kỹ thuật và trình độ phát triển về kinh tế còn hạn chế; do mô hình Xô Viết có ảnh hưởng rất lớn, nên nhiều nước lấy đó là mô hình kinh điển và áp dụng một cách máy móc, giáo điều, rập khuôn, không phù hợp với đặc điểm, tình hình cụ thể của nước mình.
Về chủ quan: sai lầm trong nhận thức về thời kỳ quá độ của đội ngũ lãnh đạo cấp cao của Liên xô và các nước Đông âu sau khi Lê-nin mất; sự sai lầm về đường lối cải tổ; nhiều yếu kém trong lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước; sự vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc của Đảng cộng sản, nguyên lý cách mạng và quy luật khách quan; sai lầm về đường lối kinh tế, chính trị, tư tưởng, đối ngoại, xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước; giáo điều, cứng nhắc, không chịu đổi mới; phản bội lại lý tưởng XHCN của một số lãnh đạo cao nhất trong các Đảng cộng sản; những hạn chế, yếu kém trong nghiên cứu về lý luận và thực tiễn; tình trạng tập trung, quan liêu, bao cấp, hành chính, mệnh lệnh, bảo thủ, độc đoán, chuyên quyền, chủ quan, duy ý chý, xa rời thực tiễn, xa rời nhân dân, sự suy thoái, biến chất của không ít cán bộ, đảng viên; tình trạng mất dân chủ và chủ nghĩa cá nhân nghiêm trọng nhưng không có biện pháp giải quyết kịp thời, hiệu quả; sự mâu thuẫn, mất đoàn kết trong nội bộ các nước XHCN và giữa các nước XHCN với nhau diễn ra phổ biến, nghiêm trọng, kéo dài, chậm được khắc phục.
Sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên xô và Đông âu không phải là do học thuyết Mác - Lê nin về CNXH có sai lầm, các nước XHCN như: Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Cuba đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin đã và đang ngày càng ổn định, phát triển là minh chứng rõ ràng nhất; trong đó Trung Quốc - một nước mới dành được độc lập được 74 năm đã phát triển mạnh từ một nước phong kiến thuộc địa đã trở thành cường quốc kinh tế thứ 2 thế giới; Việt Nam từ một nước phong kiến thuộc địa nghèo đói và lạc hậu đã vượt qua 161 quốc gia để trở vươn lên đứng thứ 32 thế giới về kinh tế chỉ sau khi dành được độc lập được 80 năm, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước được 50 năm, đổi mới 39 năm và hết cấm vận được 30 năm... là những minh chứng vững chắc để khẳng định giá trị khoa học, cách mạng và tiến bộ của chủ nghĩa Mác – Lênin, qua đó cũng chứng minh sự sụp đổ mô hình XHCN của Liên xô và Đông âu hoàn toàn không phải do sai lầm của chủ nghĩa Mác-Lênin mà do sự vận dụng sai lầm của các nước đã để lại nhiều bài học lịch sử đắt giá về nhận thức và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn.
Như vậy, mọi luận điệu phủ nhận giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin đều không có căn cứ lý luận khoa học và thực tiễn, mà chỉ là những quan điểm suy diễn chủ quan, phiến diện, góp nhặt một vài hiện tượng tiêu cực đơn lẻ, xoáy sâu vào những hạn chế, tồn tại để thổi phồng khuyết điểm, hạ thấp thành tựu cách mạng, xuyên tạc sự thật lịch sử, bôi nhọ uy tín, hạ bệ vai trò của Đảng, phá hoại lực lượng đoàn kết, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, cố tình chống lại sự phát triển của lịch sử.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam

Theo quan điểm của Ph.Ăng-ghen: “Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lặp lại một cách máy móc”[1]. V.I. Lê-nin khẳng định: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người XHCN cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”[2] và Người đã bổ sung, phát triển để hình thành nên chủ nghĩa Mác-Lênin và vận dụng, giải quyết thành công những vấn đề cách mạng ở Liên Xô, đồng thời, kiến tạo nên CNXH trên thế giới. Tiếp thu quan điểm của Ph.Ăng-ghen và V.I. Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin để giải quyết đúng đắn những vấn đề cách mạng Việt Nam, qua đó đã hình thành nên tư tưởng Hồ Chi Minh.

Quay lại lịch sử nước ta vào nửa cuối thế kỷ 19, các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp của Nhân dân ta nổi lên khắp nơi, như: cuộc đấu tranh của Nguyễn Tri Phương, Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Thiên Hộ Dương, Trần Tấn, Đặng Như Mai, Nguyễn Xuân Ôn, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Quang Bích… cùng với nhiều cuộc đấu tranh của quan quân nhà Nguyễn và các phong trào Cần Vương (Ham nghi, Tôn Thất Thuyết), khởi nghĩa Ba Đình (Phạm Bành và Đinh Công Tráng), khởi nghĩa Bãi Sậy (Nguyễn Thiện Thuật, Đinh Gia Quế), khởi nghĩa Hương Khê, khởi nghĩa Yên Thế, các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản do Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh lãnh đạo… vì không có đường lối đấu tranh đúng đắn nên đã liên tục thất bại. Cách mạng Việt Nam bế tắc về đường lối đấu tranh giải phóng nhân dân lao động và giải phóng dân tộc ra khỏi ách thống trị của thực dân, phong kiến để xây dựng chế độ xã hội mới tiến bộ.
Trước bối cảnh khủng hoảng về đường lối cứu nước, cứu dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin và nhận thấy đây là học thuyết cách mạng, khoa học và tiến bộ nhất, phù hợp với thực tiễn và truyền thống tốt đẹp của Việt Nam, Người đã lựa chon con đường giải phóng dân tộc là đi theo Chủ nghĩa Mác - Lênin một cách sáng tạo và phát triển kết hợp với việc kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và từ đó hình thành nên Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam một cách toàn diện, sâu sắc và phù hợp, góp phần bổ sung, phát triển và làm phong phú kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin để lãnh đạo Nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác trong những điều kiện vô cùng khó khăn, phức tạp và đầy thử thách, mà cho đến nay không có một tư tưởng nào, một lực lượng chính trị nào khác có thể làm được ở Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành qua một quá trình phát triển lâu dài, từ truyền thống đến hiện đại, từ nhận thức cho đến thực tiễn, với rất nhiều đổi mới sáng tạo nhưng cũng độc lập, tự chủ về tư duy và hành động cách mạng; không giáo điều, thiên kiến, không bảo thủ, khép kín; phù hợp với quy lật vận động, phát triển của lịch sử loài người nói chung và của dân tộc Việt Nam nói riêng; Tư tưởng Hồ Chí Minh có đầy đủ các cơ sở lịch sử, thực tiễn và lý luận, vô cùng phong phú, sinh động, đó là: giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam điển hình như: chủ nghĩa yêu nước với ý chí bất khuất, tự lực, tự cường, truyền thống đoàn kết, ý thức dân chủ và chủ nghĩa nhân văn anh hùng, cần cù, thông minh, sáng tạo trong lao động sản xuất, một dân tộc yêu cuộng hòa bình, ghét chiến tranh, kiên quyết, kiên trì đấu tranh trước mọi kẻ thù để được độc lập, tự do, hòa bình, phát triển; đó là tinh hoa văn hóa nhân loại, cơ bản là tinh hoa văn hóa phương Đông; chủ nghĩa Mác-Lênin - duy vật lịch sử, duy vật biện chứng, 2 nguyên lý, 3 quy luật – lượng chất, phủ định, đối lập, 6 cặp phạm trù, triết học, kinh tế chính trị, chủ nghĩa xã hội khoa hoc; thực tiễn Việt Nam; thực tiễn thế giới; phẩm chất cá nhân của chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức, nhân cách cao đẹp, năng lực xuất chúng, trí tuệ thiên tài, tinh thần yêu nước nồng nàn, phẩm giá nhân văn cao cả, bản lĩnh đấu tranh kiên cường với khát vọng cứu nước, cứu dân và ý chí quyết tâm sẵn sàng hiến dâng trọn đời cho độc lập dân tộc, tự do cho đất nước, hạnh phúc cho Nhân dân…
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống toàn diện về nhân sinh quan, thế giới quan, được thể hiện sinh động, phong phú trong các lĩnh vực đời sống xã hội, mà cốt lõi là những tư tưởng về cách mạng giải phóng dân tộc, đấu tranh lật đổ ách thống trị, áp bức, bóc lột, bất công nhằm bảo vệ quyền dân tộc, quyền con người, quyền làm chủ của Nhân dân; tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH ở Việt Nam, nhằm xây dựng một nước Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc, phú cường; bổ sung vào lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về bản chất giai cấp của đảng cộng sản và xác định Đảng Cộng sản Việt Nam phù hợp với thực tiễn một nước thuộc địa, phong kiến, trình độ kinh tế - xã hội kém phát triển, giai cấp công nhân ra đời muộn nên Người đã xác định Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, mang bản chất của giai cấp công nhân, là Đảng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, Đảng là đạo đức, là văn minh; tư tưởng về độc lập, tự do, dân chủ, quyền con người, về Nhà nước là của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức yêu nước; tư tưởng về đoàn kết, đại đoàn kết; về kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; về đạo đức, lối sống và nhiều vấn đề trọng đại quốc gia như quốc phòng, an ninh, kinh tế, đối ngoại, văn hóa, giáo dục, y tế, môi trường…
Tư tưởng Hồ Chí Minh là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã dẫn dắt cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi vĩ đại, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc: kỷ nguyên “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” và ngày nay Đảng ta tiếp tục khởi xướng một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc dựa trên nên tảng tư tưởng, lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng, phương pháp, phong cách, đạo đức Hồ Chí Minh. Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của nước ta là minh chứng khẳng định giá trị nền tảng và kim chỉ nam của Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với Đảng, Nhà nước, Nhân dân và cách mạng Việt Nam.
Đối với thế giới, Tư tưởng Hồ Chí Minh đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại, đóng góp nhiều giá trị mới, góp phần động viên các phong trào giải phóng dân tộc, đấu tranh vì hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội trên thế giới, nhằm mục tiêu giải phóng triệt để con người khỏi áp bức, bất công, xây dựng một thế giới hòa bình, thịnh vượng thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích dân tộc với lợi ích của cộng đồng quốc tế, kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng; không chỉ là tư tưởng về đấu tranh giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản, mà còn mở rộng trên tất cả các phạm vi, lĩnh vực đời sống xã hội; không chỉ là quan điểm về đấu tranh xóa bỏ áp bức, bóc lột, mà còn đấu tranh xóa bỏ đói nghèo, lạc hậu, bất công và những tiêu cực, lỗi thòi, lạc hậu nhằm tạo ra một thế giới mới theo mục tiêu tốt đẹp của CNXH, đây chính là giá trị cách mạng, đạo đức và nhân văn mang tầm thời đại của tư tưởng Hồ Chi Minh phù hợp với quy luật và xu thế vận động, phát triển của lịch sử.
Nhận thức về giá trị vĩ đại của Tư tưởng Hồ Chí Minh, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991), Đảng ta nêu lên khái niệm Tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng đã xác định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Nhân dân ta giành thắng lợi”[3]. Đảng ta kiên định chủ nghĩa Mác- Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động cách mạng.
3. Những thành quả của việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh của Việt Nam
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng đã phân tích, đánh giá và giải quyết đúng đắn những vấn đề thực tiễn cách mạng trong mọi giai đoạn, đã lãnh đạo Nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại:
Thắng lợi của cách mạng Tháng Tám mùa thu năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế; thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên CNXH với tư duy mới đúng đắn, phù hợp thực tiễn Việt Nam; quyết tâm thực hiện bằng được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; xây dựng chế độ xã hội do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.
Sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước đạt nhiều thành tựu rực rỡ, đất nước ta tuy mới độc lập được 80 năm, hoàn toàn giải phóng thống nhất được 50 năm, tiến hành đổi mới được 40 năm, nhưng đã nhanh chóng phát triển từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến, nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, đời sống nhân dân cực kỳ khó khăn, bị bao vây, cấm vận hàng chục năm, đến nay Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã dành được rất nhiều thành tựu vĩ đại mang tầm thời đại, mà hơn 4 ngàn năm lịch sử, dân tộc ta chưa bao giờ có được, có thể khái quát rất cơ bản như sau:
Nước ta đã và đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế phát triển, vận hành đồng bộ theo quy luật khách quan và cơ chế thị trường; các chủ thể kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh theo đúng pháp luật; là nền kinh tế hiện đại, độc lập, tự chủ, hội nhập quốc tế một cách chủ động, sâu rộng, hiệu quả; giải phóng lao động và khơi thông mọi tiềm năng, lợi thế để phát triển; dưới sự lãnh đạo của Đảng, có sự quản lý của Nhà nước, theo đúng định hướng XHCN; Nhà nước giữ vai trò kiến tạo phát triển, giữ vững ổn định vỹ mô, đảm bảo các cân đối lớn, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, phát triển đa dạng các loại thị trường đảm bảo công khai, minh bạch, lành mạnh, bình đẳng, thuận lợi; xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp, tiến tới không còn bóc lột, thực hiện nguyên tắc làm theo năng lực, hưởng theo lao động, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; kinh tế vĩ mô ổn định, tốc độ tăng trưởng khá cao trong nhiều thập kỷ gần đây; chất lượng tăng trưởng được cải thiện, quy mô và tiềm lực nền kinh tế được nâng lên; năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam tăng nhanh; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại, phù hợp với quy luật khách quan; kinh tế tư nhân phát triển mạnh, chiếm tỷ trọng cao, đã trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế; vốn đầu tư nước ngoài và kim ngạch xuất, nhập khẩu tăng mạnh; hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với nhiều công trình hiện đại, nhất là hệ thống điện, đường, trường, trạm, thông tin và truyền thông và hạ tầng đô thị lớn, nông thôn mới phát triển đồng bộ, ngày càng hiện đại; đời sống văn hóa tinh thần của Nhân dân ngày càng phong phú, chất lượng cao; chất lượng dịch vụ y tế, giáo dục, đào tạo tiến bộ vượt bậc; tuổi thọ trung bình và chỉ số phát triển con người (HDI) liên tục được cải thiện, thuộc nhóm cao của thế giới; chất lượng, số lượng nguồn nhân lực có sự cải thiện đáng kể; tiềm lực khoa học, công nghệ quốc gia được tăng cường; chỉ số đổi mới, sáng tạo toàn cầu của Việt Nam liên tục tăng hạng.

Tăng trưởng kinh tế nước ta giai đoạn 2021 – 2025 ước đạt 6,2%/năm, thuộc nhóm nước tăng trưởng cao của khu vực và thế giới; đến năm 2025, quy mô GDP nước ta đạt hơn 514 tỉ USD, xếp thứ 32 trên thế giới, vượt qua hàng trăm nước tư bản chủ nghĩa; GDP bình quân đầu người 5026 USD/người/năm, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao, được nhiều tổ chức quốc tế uy tín đánh giá cao; tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ chiếm gần 90% GDP; là một trong những quốc gia hàng đầu ASEAN về thu hút FDI; năng lực cạnh tranh của Việt Nam ngày càng cao; nằm trong top 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất; cả nước hiện có 78% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; đã hoàn thành xoá mù chữ, phổ cập giáo dục giáo dục trung học cơ sở; bảo hiểm y tế bắt buộc và tự nguyện đạt mức 95,2%; tuổi thọ trung bình lên 74,8 năm; năm 2025, chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, chỉ số hạnh phúc xếp thứ 46/143 quốc gia, tỉ lệ hộ nghèo đa chiều giảm còn 1,3%, hoàn thành xóa nhà tạm, nhà dột nát trên toàn quốc[4]…
Nhà nước Việt Nam pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân không ngừng được làm trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; nền hành chính và tư pháp liên tục được cải cách; hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, đảm bảo tốt nhất mọi quyền lợi của Nhân dân; lấy phục vụ Nhân dân làm mục đích tối thượng và đảm bảo cao nhất quyền làm chủ của Nhân dân; mọi hoạt động của Nhà nước đều nhằm mục tiêu xây dựng một xã hội ấm no, hạnh phúc, an ninh, an toàn, dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng XHCN; không ngừng nỗ lực thực hiện các chính sách phát triển toàn diện con người; tự do, dân chủ, nhân quyền đạt nhiều thành tựu to lớn; các lĩnh vực văn hóa, xã hội phát triển mạnh; an sinh xã hội, phúc lợi xã hội ngày càng được nâng cao; khoa học công nghệ phát triển nhanh, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số liên tục được đẩy mạnh…
Đảng, Nhà nước nhất quán thực hiện đường lối ngoại giao “Cây tre Việt Nam”, giữ vững độc lập, tự chủ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; tôn trọng các nguyên tắc ngoại giao và luật pháp quốc tế; thiết lập và phát triển các quan hệ ngoại giao hữu nghị, hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi với tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới; không can thiệp công việc nội bộ của nhau, thực hiện chính sách quốc phòng 4 không: không tham gia liên minh quân sự, không liên kết nước này để chống nước khác, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; sẵn sàng là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; đóng góp ngày càng lớn vào hòa bình, thịnh vượng, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới…
Từ một nước bị bao vậy cấm vận, đến nay, Việt Nam đã quan hệ ngoại giao với 193 nước, trong đó có 3 nước quan hệ đặc biệt gồm Lào, Campuchia và Cuba, 15 nước là đối tác chiến lược toàn diện, trong đó có 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc; là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế; vị thế và uy tín quốc tế của nước ta chưa bao giờ cao như hiện nay…
Những thành tựu nói trên là minh chứng sinh động và đầy thuyết phục cho giá trị trường tồn và sự áp dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam để nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay, đó còn là nền tảng vững chắc để sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc trên con đường cách mạng XHCN.
4. Kết luận chung

Thực tiễn đó, thành tựu đó đã chứng minh giá trị trường tồn và sức sống vĩ đại của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, vạch trần bản chất phản động, phản tiến bộ, vô căn cứ của các luận điệu cố tình phủ nhận, xuyên tạc của các thế lực thù địch về Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Để tiếp tục khẳng định và phát huy giá trị trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới - vươn mình của dân tộc, chúng ta cần chú trọng thực hiện các nội dung cơ bản sau:
Một là, kiên định ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phát huy hiệu quả vai trò làm chủ của Nhân dân; không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế; tiếp tục phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực và thời cơ, khắc phục khó khăn, vượt qua mọi thử thách; huy động sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đẩy mạnh các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội nhằm tiếp tục đổi mới đất nước, thực hiện thành công và hoàn thành sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, luôn luôn xác định đây chính là nhân tố quyết định mọi thắng lợi; xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hoàn thiện; áp dụng phương châm: “Lấy thành tựu phát triển kinh tế - xã hội làm chỗ dựa vững chắc cho nền tảng tư tưởng của Đảng”; xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; lấy con người làm trung tâm, vừa là động lực và là mục tiêu phát triển; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, phát huy tự do, dân chủ, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong mọi chính sách, mọi giai đoạn; bảo đảm vững chắc quốc phòng và ANTT; nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả với hệ thống pháp luật hoàn thiện, đầy đủ, đồng bộ, chặt chẽ.
Hai là, không ngừng nghiên cứu sâu, tổ chức học tập rộng rãi, nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là các thế hệ nối tiếp; tăng cường tuyên truyền, phổ biến rộng rãi những giá trị đích thực của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời, bổ sung, làm rõ thêm những vấn đề về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam hiện nay; thường xuyên xây dựng và phát triển số lượng, chất lượng và phát huy tối đa vai trò đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, tuyên truyền, tuyên giáo, dân vận và lực lượng trực tiếp đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch; chủ động phát hiện những vấn đề mới, cách tiếp cận mới để giải quyết những vấn đề thực tiễn; tránh giáo điều, sáo rỗng, lý thuyết suông theo kiểu “tầm chương trích cú” hoặc máy móc, chủ quan, duy ý chí, xơ cứng, xa rời thực tiễn.
Ba là, kiên quyết đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, phát huy tốt đa ý thức và trách nhiệm, trình độ và năng lực, kỹ năng và phương pháp của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng, những giá trị khoa học, cách mạng cốt lõi của học thuyết chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không ngừng đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao tính chiến đấu, tính chủ động, tính thuyết phục và hiệu quả của công tác chính trị tư tưởng, công tác tuyên giao, dân vận; cần thiết nghiên cứu thêm những quan điểm, các học thuyết chính trị ngoài mác-xít để vừa phê phán, phản bác vừa tiếp thu những giá trị tinh hoa, phù hợp nhằm góp phần phát triển, bổ sung và làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh để đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả sự lãnh của Đảng, giải quyết tốt hơn những vấn đề cách mạng đang đặt ra trong tình hình mới.
Phòng Cảnh sát cơ động
[1] C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, t. 36, tr. 796
[2] V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, t. 4, tr. 232
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, tr.88.
[4] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (tập 1, tr.47, 50).