Thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm cho thấy, một số người sử dụng lao động vẫn cho rằng việc nợ tiền bảo hiểm chỉ phát sinh trách nhiệm hành chính và có thể khắc phục bằng cách nộp chậm. Tuy nhiên, hành vi cố tình trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động có thể bị xử lý hình sự theo Điều 216 Bộ luật Hình sự. Chủ thể chịu trách nhiệm hình sự có thể là cá nhân người quản lý, điều hành hoặc pháp nhân thương mại nếu có đủ căn cứ theo quy định.
Công an tỉnh Lâm Đồng thông tin một số nội dung cơ bản để doanh nghiệp, hộ kinh doanh và người sử dụng lao động nắm rõ, chủ động rà soát, chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Chậm đóng và trốn đóng bảo hiểm xã hội được xác định như thế nào
Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, hành vi chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp gồm các trường hợp như chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ số tiền phải đóng theo hồ sơ tham gia đã đăng ký kể từ sau ngày đóng chậm nhất; không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp trong thời hạn luật định; hoặc một số trường hợp thuộc nhóm hành vi trốn đóng nhưng có lý do chính đáng nên không bị coi là trốn đóng.
Hành vi trốn đóng được xác định khi người sử dụng lao động cố tình không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đóng bảo hiểm theo quy định. Các hành vi thường gặp gồm không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp sau thời hạn luật định; đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng thấp hơn quy định; không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký sau khi đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định.
Mốc thời gian là yếu tố người sử dụng lao động cần đặc biệt lưu ý. Khoản 1 Điều 28 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định người sử dụng lao động phải kê khai và nộp hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cho cơ quan bảo hiểm xã hội trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Việc chậm đăng ký, đăng ký không đầy đủ hoặc cố tình không thực hiện nghĩa vụ sau khi đã quá thời hạn và được đôn đốc có thể làm phát sinh trách nhiệm pháp lý nghiêm trọng hơn.
Về biện pháp xử lý, hành vi chậm đóng bị buộc đóng đủ số tiền chậm đóng và nộp thêm khoản tiền tính theo tỷ lệ 0,03%/ngày trên số tiền, số ngày chậm đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm thất nghiệp; đồng thời có thể bị xử phạt vi phạm hành chính và không được xem xét trao tặng các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng theo quy định.
Đối với hành vi trốn đóng, người sử dụng lao động ngoài việc bị buộc đóng đủ số tiền trốn đóng và khoản tiền tính theo tỷ lệ 0,03%/ngày trên số tiền, số ngày trốn đóng còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Khi nào hành vi trốn đóng bảo hiểm bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Điều 216 Bộ luật Hình sự quy định tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động. Hành vi có thể cấu thành tội phạm khi người có nghĩa vụ đóng bảo hiểm cho người lao động có hành vi gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ theo quy định từ 06 tháng trở lên; đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm; đồng thời đạt ngưỡng định lượng theo quy định của pháp luật.
Đối với cá nhân, khung hình phạt cơ bản là phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm khi trốn đóng bảo hiểm từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc trốn đóng bảo hiểm cho từ 10 người đến dưới 50 người lao động.
Ở khung tăng nặng, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm nếu phạm tội 02 lần trở lên; trốn đóng bảo hiểm từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; trốn đóng bảo hiểm cho từ 50 người đến dưới 200 người lao động; hoặc không đóng số tiền bảo hiểm đã thu, đã khấu trừ của người lao động thuộc mức định khung tương ứng.
Khung hình phạt cao nhất là phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm, áp dụng đối với trường hợp trốn đóng bảo hiểm 1.000.000.000 đồng trở lên; trốn đóng bảo hiểm cho 200 người lao động trở lên; hoặc không đóng số tiền bảo hiểm đã thu, đã khấu trừ của người lao động thuộc mức định khung tương ứng.
Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Pháp nhân thương mại cũng có thể bị xử lý hình sự
Không chỉ cá nhân, pháp nhân thương mại cũng có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi trốn đóng bảo hiểm theo khoản 5 Điều 216 Bộ luật Hình sự. Theo đó, pháp nhân thương mại phạm tội thuộc khung cơ bản có thể bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng; phạm tội thuộc khung tăng nặng có thể bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng, tùy tính chất, mức độ vi phạm.
Việc pháp nhân thương mại bị xử lý hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Tùy theo vai trò, mức độ tham gia, người đại diện theo pháp luật, kế toán trưởng, người được giao phụ trách công tác nhân sự, tiền lương hoặc người trực tiếp chỉ đạo, thực hiện hành vi vi phạm đều có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự nếu có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật.

Quy định của pháp luật về chậm đóng, trốn đóng và gian lận bảo hiểm
Một số hành vi gian lận bảo hiểm cần lưu ý
Bên cạnh tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động, Bộ luật Hình sự còn quy định các tội danh liên quan đến gian lận bảo hiểm.
Điều 214 quy định tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp. Hành vi vi phạm có thể là lập hồ sơ giả, làm sai lệch nội dung hồ sơ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp để lừa dối cơ quan bảo hiểm xã hội; hoặc dùng hồ sơ giả, hồ sơ đã bị làm sai lệch nội dung để hưởng các chế độ bảo hiểm trái quy định.
Điều 215 quy định tội gian lận bảo hiểm y tế. Hành vi vi phạm có thể là lập hồ sơ bệnh án, kê đơn thuốc khống, kê tăng số lượng hoặc thêm loại thuốc, vật tư y tế, dịch vụ kỹ thuật, chi phí giường bệnh và các chi phí khác mà thực tế người bệnh không sử dụng; giả mạo hồ sơ, thẻ bảo hiểm y tế hoặc sử dụng thẻ bảo hiểm y tế không hợp pháp để hưởng chế độ bảo hiểm y tế trái quy định.
Các hành vi gian lận bảo hiểm không chỉ làm thất thoát quỹ bảo hiểm, ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người tham gia, mà còn có thể bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, tùy tính chất, mức độ và hậu quả vi phạm.
Một số tình huống vi phạm phổ biến
Trong thực tế, vi phạm thường phát sinh từ việc không đăng ký hoặc đăng ký thiếu số người lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp; để quá thời hạn nhưng không khắc phục, không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ dù đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc.
Một số doanh nghiệp ký hợp đồng dịch vụ, hợp đồng khoán việc, hợp đồng cộng tác viên với người lao động nhưng thực chất có quan hệ lao động, có trả công, có sự quản lý, điều hành, giám sát. Tên gọi của hợp đồng không làm thay đổi bản chất quan hệ. Khi xác định đúng là quan hệ lao động thì người sử dụng lao động vẫn phát sinh nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động theo quy định.
Trường hợp khác là đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp hơn quy định hoặc tách thu nhập thành nhiều khoản phụ cấp, hỗ trợ không đúng bản chất nhằm giảm mức đóng. Đây là hành vi tiềm ẩn nguy cơ vi phạm pháp luật, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi lâu dài của người lao động khi hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất.
Đáng lưu ý, trường hợp doanh nghiệp đã khấu trừ tiền bảo hiểm từ tiền lương của người lao động nhưng không nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội là hành vi đặc biệt nghiêm trọng, có thể bị xem xét ở khung xử lý nặng hơn theo quy định của Bộ luật Hình sự, tùy số tiền, số người lao động và các yếu tố liên quan.
Bảo hiểm xã hội là trụ cột của hệ thống an sinh xã hội, gắn trực tiếp với quyền lợi của người lao động và trách nhiệm pháp lý của người sử dụng lao động. Việc chấp hành đầy đủ nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp không chỉ giúp doanh nghiệp tránh rủi ro pháp lý, mà còn tạo tâm lý yên tâm cho người lao động, góp phần xây dựng quan hệ lao động ổn định, hài hòa, bền vững.
Công an tỉnh Lâm Đồng đề nghị các doanh nghiệp, hộ kinh doanh và người sử dụng lao động trên địa bàn chủ động rà soát việc đăng ký, kê khai, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo đúng quy định; kịp thời khắc phục các thiếu sót, không để phát sinh vi phạm kéo dài dẫn đến hậu quả pháp lý nghiêm trọng.
Người lao động cần chủ động theo dõi quá trình tham gia bảo hiểm của mình, kịp thời phản ánh đến cơ quan bảo hiểm xã hội, tổ chức công đoàn hoặc cơ quan chức năng khi phát hiện dấu hiệu doanh nghiệp không đóng, chậm đóng, trốn đóng hoặc gian lận bảo hiểm. Mỗi tổ chức, cá nhân chấp hành nghiêm quy định về bảo hiểm là góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động, bảo đảm an sinh xã hội, phòng ngừa vi phạm pháp luật và giữ vững an ninh, trật tự trên địa bàn.
Văn phòng cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lâm Đồng